Các vị thuốc bổ
Tin tức

Các vị thuốc bổ

Đăng: 23/02/2017 bởi ĐỖ VĂN PHA.

Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi

1/ Nấm linh chi. Còn gọi là linh chi thảo, nấm trường thọ, nấm lim, thuốc thần tiên

Tính bình, không độc. Chủ trị sáng mắt, bổ can khí, an thần, tăng trí nhớ, cường khí, chữa viêm gan cấp tính và mãn tính.

a. Hồng chi (xích chi, đơn chi) Vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, chữa các bệnh về huyết và thần kinh, tim

b. Hoàng chi (kim chi) Vị ngọt, tính bình, không độc, làm mạnh hệ thống miễn dịch.

c. Hắc chi (huyền chi). Vị mặn tính bình, không độc, chủ trị bí tiểu tiện, sỏi thận, bệnh ở cơ quan bài tiết.

d. Bạch chi (ngọc chi) Vị cay, tính bình, không độc, chủ trị hen, ích phế khí.

e. Tử chi (Linh chi tím) Vị ngọt, tính ôn, không có độc, chủ trị đau nhức khớp xương, gân cốt.

Dùng 6 loại linh chi lâu ngày sẽ giúp cho nhẹ người tăng tuổi thọ.

Cách và liều dùng đơn giản nhất là dùng toàn nấm linh chi đã sấy khô, thái mỏng hoặc tán thành bột đun nước sôi kỹ (sôi 15 – 30 phút) lấy nước uống trong ngày. Liều dùng mỗi ngày 2 -5 gr nấm linh chi. Nước sắc nấm linh chi có mùi thơm, vị hơi đắng, có thể thêm đường hay mật ong vào cho dễ uống.
……………………………………….

Hà thủ ô trị thần kinh suy nhược, các bệnh về thần kinh, ích huyết, khỏe gân cốt, sống lâu, làm đen râu tóc.

Liều dùng: 12 – 20 gr. Loại sắc, thuốc rượu hoặc thuốc bột.
…………………………………
Sinh địa: Còn gọi là địa hoàng, thục địa. Sinh địa thì mát huyết, người huyết nhiệt nên dùng. Sinh địa và thục địa đều là các vị thuốc quý. Hoặc có tài liệu nói năng lực của Sinh địa bổ chân âm, lương nhiệt huyết, là vị thuốc bổ dương, cường tráng.

Thục địa: Có tính ôn và bổ thận. Vào 3 kinh tâm, can và thận. Có tác dụng nuôi thân, dưỡng âm và bổ thận, làm đen râu tóc, chữa huyết hư, kinh nguyệt không đều, tiêu khát, âm hư ho, suyễn. người huyết suy thì nên dùng.

Còn thục địa bổ tinh tủy, nuôi can, thận, sáng tai, mắt, là thuốc tư dưỡng, cường tráng cho người lao thần, khổ trí, lo nghĩ hại huyết, túng dục hao tinh nên dùng thục địa.

Liều dùng: 9 – 15 gr

Kiêng kỵ : Người tỳ vị hư hàn không nên dùng.
……………………………………

Kỷ tử: Còn gọi là câu khởi, địa cốt tử, câu kỷ tử.

Là một vị thuốc bổ toàn thân, dùng trong các bệnh đái đường (phối hợp các vị thuốc khác), ho lao, viêm phổi, mệt nhọc, gầy yếu, bổ tinh khí, giữ cho người trẻ lâu

Liều dùng: 6 – 15 gr Loại sắc hoặc thuốc rượu

Vị ngọt tính bình. Có tác dụng bổ can, thận, nhuận phế táo, mạnh gân cốt. Dùng chữa chân tay yếu, mỏi, mắt mờ, di mộng tinh.
………………………………

Thổ ty tử: Vị ngọt, tính ôn. Vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can, thận ích tinh tủy, mạnh gân cốt. Dùng chữa thận hư tinh lạnh. Một vị thuốc bổ chữa bệnh liệt dương, di tinh, chân, lưng mỏi đau, mỏi gối, tai ù, mắt mờ, sốt khát nước, tiểu tiện đục, dùng lâu đẹp nhan sắc.

Kiêng kỵ: những người dễ cường dương, bí đại tiện không nên dùng.

Liều dùng: 8 -16 gr
…………………………………….

Ngủ vị tử: Có vị chua, mặn, tính ôn, không độc vào 2 kinh phế và thận. Có tác dụng liễm phế, cố thận, cố tinh, chỉ mồ hôi, dùng làm thuốc trừ đờm, tu bổ, cường âm ích khí, bổ ngủ tạng, thêm tính trừ nhiệt.

Bổ thận, dùng trong những trường hợp thân thể mệt nhọc, uể oải không muốn làm gì, trị ho, liệt dương và mệt mỏi, biếng hoặt động.

Tuy nhiên, đối với những người có biểu tà, có thực nhiệt thì không nên dùng.
…………………………………..

Viết bình luận của bạn: